NÉT ĐẸP CỦA NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ TRÊN TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LỰ

Đăng lúc: Thứ năm - 11/04/2019 20:46 - Người đăng bài viết: Nguyen Quoc Chinh
.

.

Mỗi một trang phục truyền thống là một nét đẹp văn hóa độc đáo của từng dân tộc. Dân tộc Lự là một trong số ít các dân tộc thiểu số của Việt Nam còn lưu giữ và bảo tồn nguyên vẹn trang phục truyền thống từ xưa đến nay, không bị pha tạp bởi yếu tố thời gian. Nghệ thuật trang trí trên trang phục dân tộc Lự không chỉ thể hiện được tính thẩm mĩ, sự khéo léo, tinh tế của đôi bàn tay người phụ nữ Lự, mà nó còn thể hiện được nét đẹp trong tâm hồn của chính những nghệ nhân tạo nên những tuyệt tác đó
Đặt vấn đề
            Trang phục truyền thống thể hiện nét đẹp văn hóa cũng như tinh hoa nghệ thuật của mỗi một dân tộc. Đặc trưng của mỗi một trang phục truyền thống không chỉ được đánh giá bằng kết cấu, kiểu dáng trang phục mà còn được thẩm định qua nghệ thuật trang trí trên trang phục đó. Yếu tố trang trí quyết định tính thẩm mĩ và giá trị nghệ thuật của chính trang phục đó. Thời trang Việt Nam ngày một phát triển, nhưng cũng chính vì thế mà các trang phục ngày nay thường mang các đặc tính chung cả về hình thức cũng như trang trí. Do đó, việc đưa tính truyền thống vào thiết kế để tạo nét văn hóa riêng, tiếng nói riêng cho mỗi một sản phẩm trang phục đã trở thành một xu hướng mới của những nhà thiết kế thời trang trên thế giới và ngay tại Việt Nam hiện nay.
Việc lựa chọn những phương thức trang trí truyền thống của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam để đưa vào các thiết kế đã tạo nên những hiệu ứng thẩm mĩ tích cực. Điều này không chỉ giúp bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống mà còn tạo được những sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện được tinh thần hiện đại mang âm hưởng truyền thống. Dân tộc Lự là một số ít các dân tộc còn giữ và bảo tồn được nguyên vẹn trang phục truyền thống từ xưa đến nay. Kĩ thuật trang trí trên trang phục của họ rất đa dạng và thiên biến với nhiều cách phối màu và họa tiết.
Nội dung
  1. Vài nét về đời sống và văn hóa của dân tộc Lự
        1.1 Đời sống, văn hóa
              Người Lự có các hoạt động kinh tế để duy trì và phát triển cuộc sống của mình. Một trong số đó có thể kể đến việc canh tác lúa nước. Không giống với người Việt và một số dân tộc thiểu số ở vùng bán sơn địa – vùng thung lũng dưới chân núi như người Mường, Thái…người Lự sống ở vùng cao ( 500 – 600m so với mực nước biển) nên muốn canh tác lúa nước là một việc không đơn giản. Trước tiên phải việc chọn đất để khai phá thành ruộng. Với địa bàn cư trú chủ yếu là những đồi đất xen kẽ lẫn với đá vôi, có độ dốc rất cao khoảng 20 – 300 nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
             Tổ chức xã hội của người Lự được kết cấu theo làng bản. Với cách tổ chức cộng đồng cấu kết như vậy, nền kinh tế của họ mang đậm chất tự cung tự cấp. Chính từ hình thức tổ chức xã hội và cơ sở kinh tế này mà người Lự đã hình thành, sáng tạo những nghề thủ công truyền thống, hầu hết những nghề thủ công này có ý nghĩa thiết thực, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng. Các nghề thủ công của người Lự khá là phong phú như nghề dệt, nghề rèn… Đặc biệt, nghề thủ công của người Lự có sự phân biệt, cơ cấu theo giới. Nghề dệt gắn với cuộc sống của người phụ nữ. Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng hoạt động của nghề dệt thể hiện trình độ phát triển, sự sáng tạo và bàn tay khéo léo của người Lự. Không phải ngẫu nhiên mà dệt vải và thổ cẩm được coi như là thước đo giá trị của người phụ nữ. Đối với nam giới lại có thế mạnh của riêng mình trong các nghề thủ công như đan lát, mộc và đặc biệt là nghề rèn. Nhìn chung, càng tìm hiểu nhiều về nghề thủ công của người Lự, chúng ta càng nhận thấy những giá trị văn hóa của tộc người luôn được củng cổ, liên kết thông qua lao động. Sự trao truyền ấy được thẩm thấu dần dần theo thời gian, qua đó tạo nên một cơ sở văn hóa tộc người vô cùng bền vững. Chính vì vậy, những sản phẩm thủ công ở người Lự mang nhiều giá trị văn hóa hơn giá trị về hàng hóa.
 
  1. Nghệ thuật trang trí trong tạo tác trang phục dân tộc Lự
           2.1 Kĩ thuật dệt, nhuộm:
            - Kĩ thuật dệt:
             Cũng như phần đông các dân tộc thiếu số khác người Lự cũng rất chú trọng đến nghề dệt. Tuy với kĩ thuật dệt thủ công và chỉ sử dụng một công cụ để dệt đó là khung cửi. Khung cửi của người Lự có cấu tạo tương tự như khung cửi của người Thái ở Tây Bắc. Khung cửi được làm bằng gỗ có dạng khung hình chữ nhật, trong đó chiều ngang của khung chính là chiều quy định của khổ vải. Tuy nhiên khung cửi dạng này được chế tạo vừa với tầm tay của người phụ nữ, đồng thời cũng phải thuận lợi, phù hợp với việc khi người phụ nữ dùng lực cánh tay đẩy con thoi ( xôi ) sang phía đối diện, do vậy khổ vải của người Lự thường có chiều ngang từ 40 đến 60cm – chính điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết cấu của bộ trang phục của người Lự.
           - Kĩ thuật nhuộm:
            Để có thể dệt thành vải, sợi phải được hồ và nhuộm. Giống như người Thái, người Lự hồ vải bằng nước cháo gạo. Trước khi hồ, sợi được giặt sạch sau đó đem nhúng kĩ vào nước cháo gạo rồi phơi thật khô. Nếu như dệt vải mộc thì sau khi hồ xong có thể mang dệt. nhưng nếu dệt vải mặc hoặc dệt thổ cẩm thì sợi sẽ được nhuộm trước khi dệt.  Điều đặc biệt, nếu như người Thái dệt thành vải rồi mới nhuộm màu thì người Lự lại nhuộm sợi trước khi dệt thành vải ( ngày nay, một số gia đình cũng nhuộm vải, tuy nhiên số này rất ít ). Người Lự có nhiều kĩ thuật nhuộm khác nhau, chủ yếu dựa vào những chế phẩm nhuộm từ thiên nhiên như lá chàm hoặc một số loại cây rừng khác. Phổ biến nhất là nhuộm chàm.
            Người Lự chế cao chàm ( nàm hỏm ) bằng cách ngâm lá chàm cho rữa nát, sau đó đổ nước vôi trong vào để lắng một ngày rồi cuối cùng lọc bằng cao chàm. Khi nhuộm, người ta lấy cao chàm bóp nát với rượu. Khoảng 3 – 4 ngày thì chàm tan hết, tiếp tục cho nước tro (nậm đắng) vào dung dịch cao chàm rồi cho sợi vào ngâm. Sau khi ngâm khoảng một giờ, vớt ra phơi cho xe mặt ( khoảng nửa giờ ) xong lại cho vào ngâm tiếp. Nếu cao chàm tốt và gặp thời tiết thuận lợi thì công đoạn nhuộm sẽ được hoàn thiện trong vòng 7 ngày. Đỗ tương được xay nhuyễn, lọc lấy bột. Thấm đẫm mảnh vải vào nước bột ( sáy phải thố ) rồi đem phơi thật khô, làm ba lần liên tục. Sau khi vải đã phơi khô, người ta cho chõ hấp (nừng phải thổ) khoảng 30 phút. Hấp xong, tiếp tục nhuộm với nước cao lá chàm liên tục trong hai ngày. Lúc này vải đã thực sự hoàn thành, có màu đen ánh đỏ.
Ngoài nhuộm chàm người Lự còn nhuộm sợi thành nhiều màu khác nhau như vàng, đỏ, nâu, tím… Sợi màu được dùng để dệt vải thổ cẩm. Nguyên liệu nhuộm chủ yếu từ cây rừng
  1. Chất liệu và màu sắc:
  • Chất liệu:
            Nguyên liệu chính  để tạo nên chất liệu độc đáo đó của người Lự được họ chăm sóc và chuẩn bị rất kĩ lưỡng. Không giống như một vài dân tộc khác, người Lự không sử dụng tơ tằm hay trồng cây lanh để dệt vải, mà vải của họ được dệt từ sợi bông (phải kén).
Sản phẩm dệt của người Lự có hai loại đó là vải và thổ cẩm:
         - Thổ cẩm được sử dụng để trang trí trên trang phục như cổ áo, nẹp áo của nam giới hay cạp váy, gấu váy, thắt lưng, túi xách… của phụ nữ. Thổ cẩm còn là món quà có giá trị khi tặng, cho nhất là trong các dạng hiếu, hỉ…
          -  Vải được phổ biến hơn thổ cẩm. Vải được người Lự chia làm hai loại: vải mộc và vải đã nhuộm. Vải mộc chỉ sử dụng là đồ hành lễ, dẫn lễ trong các nghi lễ như cưới xin, ma chay… Vải nhuộm được sử dụng thường xuyên hơn, được may thành các loại quần áo, chăn đệm… Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện nay, vùng người Lự  vẫn ít chịu ảnh hưởng của các loại vải sợi công nghiệp, họ không biết sử dụng vải tự chế, đồng thời tấm vải có ý nghĩa rất quan trọng trong các nghi lễ quan trọng của cộng đồng. Như vậy những chất liệu dệt từ bông cổ truyền không chỉ phục vụ như cầu mặc mà còn gắn với những yếu tố tâm linh ( Đây cũng là một trong những yếu tố giúp bảo lưu nghề dệt ở người Lự).
             - Màu sắc:
             Người Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, là cư dân sản xuất lúa nước kết hợp với nương rẫy, bởi vậy trang phục truyền thống của họ là bằng chứng của trình độ sản xuất và tìm tòi thành thạo một số loại cây cối trong thiên nhiên nơi đồng bào sinh sống để làm ra trang phục và tạo màu để nhuộm. Màu sắc được họ ưa thích và dùng phổ biến là màu chàm. . Màu chàm của dân tộc Lự với các tộc người khác cũng có những sắc độ khác nhau, bởi lẽ cách pha chế màu và cách thức nhuộm chàm ở mỗi tộc người có sự khác nhau như xanh đen,  xanh nhạt, tím than… Đối với người Lự thì màu chàm xanh đen được sử dụng chủ yếu để tạo nền cho bộ trang phục chủ yếu để tạo nền cho bộ trang phục.
          * Màu sắc trong trang trí:
            Người Lự cũng rất thích dụng màu sắc trong trang trí. Các màu sắc rực rỡ luôn được kết hợp và sử dụng một cách khéo léo, tinh tế. Mỗi một màu đều hàm ý một ý nghĩa tinh thần riêng phản ảnh phần nào cuộc sống cũng như nhận thức về môi trường sống xung quanh. Do sống ở địa hình cao, có khí hậu tương đối lạnh, cũng chính vì lẽ đó mà màu sắc được sử dụng để trang trí bao giờ cũng là những gam màu nóng.
             Có thể nhận thấy, phụ nữ Lự có một cảm nhận tinh tế về màu sắc khi lựa chọn và phối màu màu sắc, tưởng chừng như tự nhiên nhưng chúng lại mang lại cảm giác hài hòa về mặt thị giác. Các gam màu đó thể hiện một cách trọn vẹn nhất những giá trị thẩm mĩ về mặt thị giác. Màu phân biệt với nhau nhờ sắc chính. Ví dụ: sắc xanh cho màu xanh, sắc đỏ cho màu đỏ. Nếu thêm sắc trắng cho màu đỏ sẽ có màu hồng, thêm sắc đen vào đỏ sẽ có đỏ thẫm. Tính cách đậm nhạt hay tối sáng của màu gọi là độ sáng. Còn cường độ hay độ mạnh là tính thuần khiết của màu. Màu chính gồm đỏ, lam, vàng kết hợp từng đôi cho màu bậc hai: tím, lục, cam. Sáu màu này lại kết hợp cho nhiều màu khác (bậc ba) và cứ thế ta được rất nhiều màu. Chính điều đó, được thể hiện rất rõ trên các hình trang trí ghép vải và thêu chỉ màu của người Lự: xen kẽ giữa các hình trang trí màu đỏ, người Lự trang trí thêm các màu xanh lam đậm, màu xanh và màu đỏ xen kẽ nhau tạo sự nổi bật gây kích thích mạnh mẽ cho thị giác. Phương thức sử dụng những màu tương phản xen kẽ nhau này luôn được người Lự sử dụng để làm điểm nhấn trên cổ áo và chân váy mang lại sự thích thú trên trang phục.
              * Sự hài hòa của màu trong trang trí trên trang phục:
               Trong việc phối màu sắc người phụ nữ Lự đã biết tận dụng hết sức độ mạnh và yếu của các sắc độ. Chính điều đó đã giúp họ cân chỉnh những sắc độ một cách hợp lý. Cân bằng màu sắc là điều hết sức cần thiết. Sự khéo léo trong việc kết hợp hài hòa màu sắc đó chính là việc sử dụng màu trắng của người Lự trong các mảng trang trí. Màu trắng là màu vô sắc, thuần khiết... ưu điểm của màu trắng mà có thể làm nổi bật bất cứ màu nào khi đứng bên cạnh nó, nhưng việc tiết chế nhiều hay ít và sử dụng ra sao là nhờ sự cảm nhận tinh tế của thị giác khi sử dụng. Nếu màu đen là màu được sử dụng chủ yếu để làm nền thì trong trang trí màu trắng được người Lự dùng khá nhiều. Ví dụ như ở những đường trang trí chính, khi các đường bên cạnh được sắp xếp các mảng màu tối thì ở chính giữa các màu nóng cảng trở nên rực rỡ và nối bật hơn khi nằm trên nền trắng. Mặt khác, màu trắng cũng giúp tiết chế giữa các màu rực rỡ, khiến chúng không bị chói, rợ... Không những thế các khoảng hở to, nhỏ màu trắng được dùng xen kẽ các lớp trang trí vừa tạo  nhịp điệu đồng thời giúp tách biệt các phần màu sắc được trang trí theo đường. Đôi khi màu trắng cũng được sử dụng theo phương pháp lé màu. Ở những phần trang trí tay áo, thường được ghép vải bằng những màu tối, chính những đường chỉ trắng lé lên, nhẹ nhàng xen kẽ giữa các mảng màu được ghép ấy không những làm nổi bật hơn lên mà còn khiến chúng trở nên sắc nét. Sự kết hợp giữa sáng và tối đấy là một trong những thành công lớn mang tính mỹ thuật cao trong cách phối màu trên trang phục của phụ nữ Lự.
               Việc phối hợp màu sắc không chỉ mang lại cảm giác về thị giác mà còn là những cảm nhận trong tâm lý. Mỗi một đường nét, mảng màu trên trang phục là một sự cảm nhận riêng khác nhau của từng người tạo ra sản phẩm. Chính vì như vậy, nên cách sử dụng màu sắc trong trang trí rất phong phú và đa dạng. Cảm giác về màu sắc là nói màu sắc đem lại cho người ta sự cảm thụ về thị giác, tâm lý và tinh thần. Mỗi một màu phản ảnh một hình thái tâm lý, một cảm nhận khác nhau… Mỗi một cách phối hợp màu sắc sẽ đem đến những cảm nhận khác nhau: có cảm giác lạnh và ấm: Màu xanh lam, màu xanh dễ khiến cho ta liên tưởng đến bầu trời và mặt nước, nảy sinh cảm giác lạnh nên gọi là màu lạnh. Màu đỏ, màu da cam và màu vàng là ba màu sắc rất dễ liên tưởng đến mặt trời và lửa, từ đó nảy sinh cảm giác nóng, nên gọi là màu ấm. Màu xanh lục và màu tím dễ khiến ta liên tưởng đến màu hoa, lá của cây cối, đó gọi là màu trung tính. Bằng chính những cảm giác ấy lại mang đến sự thẩm thấu và thể hiện khác nhau của người làm ra bộ trang phục đó. Chính vì thế đó là những nhịp cảm xúc luôn thay đổi, tạo sự phong phú và ấn tượng trong mỗi một bộ trang phục, đó là sự tinh tế nhạy bén của mỗi một người con gái Lự khi tạo nên nhũng bộ trang phục bắt mắt và độc đáo ấy.
                Hơn thế nữa, cảm giác cứng hay mềm cũng được thể hiện rất rõ qua cảm nhận thị giác về màu sắc trên những trang trí của người Lự. Màu có độ sáng cao và độ thuần khiết vừa phải khiến cho ta có cảm giác mềm mại, ấm áp ; màu có độ sáng kém và độ thuần khiết thấp khiến cho ta có cảm giác cứng cáp, nghiêm túc. Dường như hiểu được rất rõ những nguyên lý đó mà chính phương thức trang trí cơ bản trên bộ trang phục được phản ánh rất rõ. Thường những chỗ được sử dụng để làm điểm nhấn như cổ áo, eo, gấu váy được người Lự lựa chọn phối hợp những màu sắc rực rõ nhằm tô điểm thêm cho nét đẹp nữ tính, mềm mại của người phụ nữ. Để làm tăng độ ấn tượng cho điểm nhấn đó là sự điểm xuyết, xen kẽ những đường trang trí có màu sắc trầm hơn tạo độ sâu, đồng thời mang tính tương hỗ, hỗ trợ làm tăng thêm giá trị thẩm mĩ.
              * Ngôn ngữ của màu sắc:
                Không chỉ dừng lại ở việc cảm nhận màu sắc bằng tâm lý,  bằng thị giác... mà đó còn là những nhận thức về thiên nhiên, về môi trường sống xung quanh đã tồn tại và được hệ thống trong cảm nhận của mỗi người Lự. thiên nhiên là một mảng màu đầy ý nghĩa. Nó trầm lắng và tỏa sáng bằng sự hòa tan của những sắc màu văn hóa. Tất cả đất, trời, sông, núi, con đèo, rừng cây, khí hậu... đều hiện tỏa sức sống cùng khả năng nuôi dưỡng, tái sinh văn hóa của chúng. Thiên nhiên là nơi mà con người luôn khao khát được sống trong nó và chinh phục nó. Thiên nhiên được cảm nhận bằng sự hòa điệu tuyệt vời của tâm hồn con người về cả khía cạnh vật chất và tinh thần. Nó làm biến động thế giới tâm hồn của con người thì nỗi khao khát được giao hòa với thiên nhiên, mong tìm thấy ở thiên nhiên sự đồng điệu càng trở nên đậm nét. Do đó, thiên nhiên là ảnh hình của một không gian có thực, đang hiện tồn cùng với con người làm thành một thế giới sống đầy ý nghĩa. Với mỗi người Lự thì điều đó càng tồn tại mạnh mẽ. Thiên nhiên là một người bạn vô cùng quan trọng, là đầu mối của mọi nhận thức của người Lự. Mỗi một màu sắc được sử dụng đều có ý nghĩa thể hiện riêng của chính nó. Chẳng hạn như:
                  - Sắc chàm (xanh đen): được xem như là màu của thiên nhiên, màu của núi rừng.
                  - Màu xanh lam, xanh nhạt là màu của sông nước, bầu trời.
                  - Màu nâu, màu của mặt đất, thân cây, rễ cây...
                 - Màu vàng biểu hiện cho ánh sáng mặt trời, sự kết hợp hài hòa giữa con người và thiên nhiên
                 - Màu đỏ là màu của lửa, biểu trưng cho sức sống mãnh liệt, cho khát vọng chinh phục thiên nhiên...
                Nhìn chung, chúng ta nhận thấy rằng trong việc phối hợp và sử dụng màu sắc đã thể hiện một sự tinh tế đầy tính thẩm mĩ của người con gái Lự. Tưởng chừng như đó chỉ là những màu cơ bản nhưng chúng chứa đựng những gíá trị tinh thần lớn lao.
              * Màu sắc trên hoa văn thổ cẩm:
                Luôn luôn được sử dụng làm điểm nhấn trên các sản phẩm thủ công cũng như trang phục của người Lự đó là những mảng thổ cẩm được dùng để trang trí. Một điều thú vị mà chúng ta có thể cảm nhận khi ngắm nhìn những đường nét, màu sắc của  những mảnh thổ cẩm đó chính là chúng đa phần được trang trí bới hai gam màu cơ bản đen và trắng. Đó cũng có thể coi là sự kết hợp mang tính hiện đại, nhưng đậm chất cổ điển. Đến ngày nay, hai gam màu đen và trắng vẫn được ưa chuộng và đam mê, mang tính kích thích cao về cảm xúc thị giác. Các hoa văn thổ cẩm màu đen được dệt trên nền trắng đầy tính trang nhã. Việc kết hợp giữa đen và trắng có thể coi là những thủ pháp để sử lý sự tương phản sáng tối, đồng thời cũng làm nảy sinh những phản ứng khác nhau và tạo sự liên tưởng phong phú. Trên mặt vải thổ cẩm, có những lúc người Lự để những khoảng màu trắng lớn làm nền, chính điều này có tác dụng phát xạ ánh sáng rất dễ làm cho mắt bị kích thích, thường được gọi là ”huyền thị”. Vì thế, mảng trắng trên mặt tranh có xu hướng mở rộng hơn diện tích thực tế của nó, đưa đường nét màu đen vào sẽ làm giảm lực nở. Nhưng khi tỉ trọng màu trắng lớn lại thường tạo cảm giác trống rỗng thiếu vắng. Đây chính là sự tinh tường trong cảm nhận về màu của phụ nữ Lự. . Để tiết chế những mảng màu trắng làm nền lớn đó, họ đã đan xem trong trang trí những mảng màu đen với kích thước to nhỏ khác nhau để kéo lại sự cân bằng. Màu đen có chất co ngót và không trong suốt. Cho nên hình đen trên nền trắng sẽ tạo cảm giác chắc chắn. Đây có thể coi là những điểm đặc trưng của hội họa truyền thống đã xuất hiện, ẩn chứa trên mảng thổ cẩm trên trang phục. Qua đây, chúng ta nhận thấy dường như người Lự cảm nhận được dự sự biến hóa độ tương phản mạnh yếu của độ sáng, chính điều này đã giúp họ tiết chế và sử lý tốt khi sử dụng hai màu đen và trắng trong trang trí.
  1. Hoa văn và trang trí
           Từ xưa đến nay việc phát hiện và tìm hiểu ra các tín hiệu hoa văn trên vải các trang phục dân tộc không bao giờ là việc đơn giản. Đó là một quá trình tiếp cận lâu dài, tiếp cận đúng hướng, tìm đến đúng nghĩa của các tín hiệu hoa văn. Hoa văn trước hết đó là một biểu hiện của quan niệm thẩm mĩ, thông qua các bố cục, mô típ, màu sắc, kĩ thuật… mặt khác nó còn phản ảnh những khía cạnh tâm lý, xã hội khác như tín ngưỡng chứa đựng bên trong các màu sắc, hình vẽ, các phong cách bố cục hoa văn ấy là bản sắc dân tộc, là tiến trình phát triển của lịch sử văn hóa, và sự giao thoa văn hóa của các tộc người. Chúng ta có thể coi hoa văn được dệt trang trí trên vải là sự bảo tồn văn hóa của các dân tộc nói chung và người Lự nói riêng dù ít hay nhiều.
 
                Nếu nói về hoa văn trang trí thì đó quả là một đồ án nghệ thuật đầy màu sắc được phối với nhau hết sức tinh tế bởi đôi tay khéo léo của người con gái Lự. Hoa văn ngoài việc thể hiện tâm tư tình cảm của người tạo ra nó, còn là một trong những chuẩn mực đánh giá tài năng, sự thông minh, sáng tạo của người phụ nữ Lự. . Nếu so sánh với cách trang trí hoa văn trên trang phục của nhóm ngôn ngữ Tày – Thái thì ta dễ dàng nhận thấy được những vẻ đẹp hiếm có của nghệ thuật trang trí độc đáo của người Lự. Nếu như người Thái thêu hoa văn chủ yếu tập trung ở khăn Piêu, người Tày nhóm Pa Dí, người Nùng Dín trang trí bằng hạt bạc, người Sán Chay trang trí hoa văn trên áo yếm, dây buộc xà cạp, bao phục… thì người Lự chủ yếu sử dụng cách trang trí ghép vải kết hợp với họa tiết thêu thổ cẩm để thể hiện nét đẹp riêng vốn có của mình. Trên nền vải, họ thêu trang trí hoa văn ghép bằng vải màu sặc sỡ, kết hợp với các họa tiết thổ cẩm với từng chi tiết được làm rất công phu, cầu kì, nổi bật trên sắc đen chàm nhìn hài hòa, đẹp mắt. Đa phần các họa tiết trang trí hoa văn đều gần gũi với con người và môi trường sinh sống của họ. Các họa tiết đều được cách điệu cô đọng, hiện đại và rất sắc nét. Có thể nói các hình hoa văn trang trí trên các mảng thổ cẩm là sự sáng tạo độc đáo của mỗi một người thể hiện, vì thế chúng rất phong phú và đa dạng trong cách thể hiện. Các họa tiết từ cây cỏ, hoa lá là được sử dụng nhiều nhất như hoa móc… Các hình học đơn giản như hình tròn, hình thoi…
               * Các chi tiết hoa văn được trang trí trên  áo:
                Những hoa văn trang trí thường là các hình kỉ hà đơn giản như: tam giác, hình thoi…Các hình tam giác nhiều màu được ghép bằng những mảnh vải với màu sắc khác nhau được khâu vào một cách cẩn thận và sắp xếp trong một đường thẳng (các dạng trang trí đường diềm rất phổ biến trên các đường trang trí của trang phục). Bên cạnh đó, họ còn sử dụng các hình thoi với nhiều màu sắc tương phản, có nhiều kích thước khác nhau đặt xen kẽ một cách có chủ đích trong bố cục hình chữ nhật… Có thể nói hoa văn trang trí trên cổ áo là một bức tranh nghệ thuật đầy màu sắc. Để tạo ấn tượng cho những hình học đơn giản ấy thêm màu sắc, người Lự đã sử dụng những chỉ màu thêu viền xung quanh các đó không chỉ tạo sự nổi bật cho hình trang trí mà nó còn làm nổi bật thêm những chi tiết nhỏ bé ấy trên trang phục ( chỉ màu vàng thường được họ sử dụng để viền bo các chi tiết trang trí ).
Không chỉ như vậy, việc trang trí kết hợp hài hòa làm tôn thêm vẻ đẹp của họa tiết đó chính là các đường đính sáng lấp lánh trên thân áo. Chúng được khâu kết bằng đồng xu, hoặc được đính bằng cườm kéo dài theo một đường chạy thẳng từ vai đến gấu áo. Chính điều này đã làm cho chiếc áo thêm phần hấp dẫn. Bên cạnh đó, các đường thẳng nhỏ chạy vòng theo cổ áo được ghép từ các mảnh vải hoa nhiều màu đã làm cổ áo người Lự thêm phong phú, đây là một trong những điểm đặc trưng trong phong cách trang trí của người Lự. Họ thường lựa chọn những mảnh vải hoa văn có màu sắc trùng với màu nền, khi kết hợp vào trong hệ thống trang trí chúng không làm lu mờ đi những họa tiết hoa văn trang trí chính mà thêm vào đó chính các mảnh ghép bằng vải nhiều màu này lại trở thành nền để tôn lên vẻ đẹp của hình họa tiết chính. Đồng thời để làm nổi bật những các hình ghép và che đi những khuyết điểm, các chỉ bọc sáng màu ( vàng, trắng ) được khâu cẩn thận khiến các hình trang trí nhỏ bé đó nổi bật một cách tự nhiên.
                 Có thể coi đây là một cách sáng tạo ra các hoa văn mới lạ và độc đáo, mang đậm chất hiện đại của người phụ nữ Lự. Các hình hoa văn được sáng tạo từ sự kết hợp của các yếu tố hình học, đường nét cơ bản không quá rườm ra nhưng luôn mang đến sự cô đọng, tính hiện đại và tinh tế cho trang phục. Hoa văn trên váy của người Lự bao gồm những hoa văn ghép vải, những đường trang trí bằng vải màu và hoa văn thổ cẩm. Đây có thể coi là nơi tổng hợp phong phú nhất các họa tiết hoa văn của dân tộc Lự. Mặt khác, nghệ thuật trang trí của người Lự còn được thể hiện ở chính trong các sắp xếp chi tiết chính phụ rõ ràng và phương pháp phối màu thể hiện luật xa gần. Các mảng hoa văn  trang trí chính luôn được sử dụng các màu sắc sáng, và mạnh; các màu nền thường dùng các màu đồng tông…do đó khi đặt các họa tiết trang trí trong một tổng thể chúng nâng đỡ làm nổi bật lẫn nhau một cách tự nhiên. Các diện tích và hình dạng các chi tiết hoa văn trang trí cũng có dự tương phản nhất định. Nếu các họa tiết trang trí chính là những hình lớn, chiếm diện tích lớn trong không gian nền thì các hình họa tiết trang trí phụ làm nền được họ tiết giảm một cách hợp lý – lúc này họ thường dùng nhiều hình nhỏ đề làm dãn không gian và tạo được cảm giác thuận mắt. Lúc này hình chính tự động gây được sự chú ý mà không hề bị tách rời trong mối liên kết các trang trí trên bề mặt trang phục.
              Nhìn chung, nghệ thuật tạo tác trang phục của dân tộc Lự là sự tổng hợp của rất nhiều các kĩ năng, kĩ thuật khéo léo từ đôi bàn tay của người phụ nữ Lự. Do dệt vải trên khung bằng kĩ thuật dệt truyền thống cho nên khổ vải của họ bị giới hạn về độ dài, đó cũng là một trong những yếu tố quyết định và hình hành kết cấu của trang phục. Sản phẩm dệt của người Lự trở nên độc đáo một phần cũng do người Lự có kĩ thuật nhuộm thủ công rất khéo. Không giống những dân tộc khác, người Lự nhuộm sợi trước khi dệt hoa văn, chính điều này giúp cho ngươi Lự có sự chủ động về màu sắc phối kết hợp để dệt các họa tiết, các đường trang trí trong khi dệt, chình từ dó mà hoa văn trang trí trên trang phục luôn mang tính hấp dẫn. Có thể nói bằng kĩ thuật dệt và nhuộm truyền thống đã giúp người Lự dệt nên những khổ vải mang đậm chất mĩ thuật.
               Trang phục không phải chỉ có màu sắc và chất liệu mà tính kết cấu, bố cục cũng như trang trí đã góp phần tạo nên sự hài hòa và độc đáo của bộ trang phục nữ dân tộc Lự. Với kết cấu dựa trên những hình khối cơ bản như hình thang, hình chữ nhật… được kết hợp với đường nét đã mang lại cho kết cấu hơi hướng tính chất hiện đại. Bên cạnh đó, các đường nét cơ bản được sử dụng, kết hợp với nhau giúp phân chia bố cục một cách hoàn chỉnh, cân đối cho trang phục.
Có thể nói trang phục dân tộc Lự là một tổng thể hoàn chỉnh cả về hình khối, đường nét, tính thẩm mĩ trong trang trí, phảng phất hơi hướng hiện đại. Nó không chỉ là sản phẩm văn hóa, mà còn mang tính mĩ thuật cao, thể hiện sự sáng tạo tinh tế trong tâm hồn người con gái Lự qua một một sản phẩm.
                Kết luận
               Mỗi một trang phục truyền thống là một nét đẹp văn hóa độc đáo của từng dân tộc. Nó không chỉ gắn liền với tính thẩm mĩ mà còn thể hiện nét cá tính riêng biệt của các tộc người. Mỗi một dân tộc đều có khả năng tạo hình trang trí độc đáo, điều đó thể hiện một trình độ thẩm mĩ cao cùng sự sáng tạo tinh tế. Sử dụng các yếu tố thẩm mĩ đó vào trong thiết kế là một cách để làm rạng rỡ thêm cho sắc thái văn hóa của các tộc người.
              Qua đây, việc tìm hiểu và ứng dụng các phương pháp trang trí mang tính đặc trưng cơ bản của dân tộc, điển hình ở đây là dân tộc Lự - phương pháp ghép vải nhiều màu, đính kết cườm, kim loại để làm điểm nhấn trên trang phục… biến tấu trong thời trang hiện đại là những thách thức đối với các nhà thiết kế trẻ hiện nay trong việc bảo tồn và duy trì những giá trị văn hóa truyền thống, tạo bản sắc riêng cho các sáng tác nghệ thuật của mình. Nghệ thuật truyền thống là nguồn tư liệu quý giá cho mỗi một tác phẩm sáng tạo nghệ thuật./
ThS. Điền Hoa Hồng
 
Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Thị Mong, Ma Thị Tiên (1994), Trang trí dân tộc thiểu số, NXB Văn hóa dân tộc.
2. Bùi Quốc Khánh, Bài trích “ Đôi nét về nữ phục người Lự” – Số 66, Trang 8;24 – Dân tộc và thời đại.
3. Cầm Trọng (2005), Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam, Chính trị quốc gia.
4. Nguyễn Từ Chi (1996), Văn hóa và tộc người, NXB Văn Hóa
5. Đỗ Thị Hòa ( 2012 ), Trang phục các dân tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Tày – Thái, Ka đai; NXB Văn hóa dân tộc.
6. Vũ Quốc Khánh (2012), Người Lự ở Việt Nam, Thông tấn
  1. Chu Thái Sơn ( 2013 ), Dân tộc Lự, NXB Kim Đồng
  2.  Lã Văn Ngô, Đặng Nghiêm Vạn, Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày – Nùng – Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội.

Tác giả bài viết: ThS. Điền Hoa Hồng
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết